Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng sau báo cáo của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cho thấy sản lượng dầu của tổ chức này đã giảm trong tháng 8/2017.
Tại New York, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 10/2017 tăng 0,16 USD lên 48,23 USD/thùng, trong khi tại London dầu Brent giao tháng 11/2017 tăng 0,43 USD lên 54,27 USD/thùng.
Theo báo cáo mới của OPEC, sản lượng khai thác dầu của 14 quốc gia thành viên thuộc tổ chức này trong tháng Tám đạt 32,755 triệu thùng/ngày, giảm 79.000 thùng/ngày so với mức 32,834 triệu thùng/ngày vào tháng Bảy trước đó. Các nhà phân tích cho biết bản báo cáo trên của OPEC cũng cho thấy thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC với các nước không thuộc OPEC đang giúp hạn chế nguồn cung toàn cầu dư thừa.
Trong khi đó, thị trường tiếp tục đánh giá tác động của cơn bão Irma, vì nhiều nhà máy lọc dầu đang hoạt động trở lại làm tăng nhu cầu dầu mỏ của Mỹ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giao ngay tăng khỏi mức thấp nhất trong hơn một tuần khi đồng USD không giữ được đà tăng và cả ba chỉ số chứng khoán Mỹ đều chinh phục các kỷ lục mới.
Kết thúc phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tăng 0,3% lên 1.330,68 USD/ounce, đầu phiên có lúc rơi xuống mức thấp nhất kể từ ngày 1/9 là 1.322,15 USD/ounce. Trong khi đó, vàng giao tháng 12/2017 tiếp tục đi xuống phiên thứ hai liên tiếp khi để mất 0,2% và xuống chốt phiên ở mức 1.332,7 USD/ounce.
Giá vàng được hỗ trợ tăng trước tình hình hình bất ổn gây mất an ninh toàn cầu của Triều Tiên với các vụ thử tên lửa ví dụ như tên lửa nhiệt hạch vừa rồi, đưa các quốc gia lân cận và các nước mạnh vào thế phòng thủ cao độ.
Thiên tai với các cơn bão đổ vào Mỹ cũng dẫn tới tâm lý cho rằng việc tăng lãi suất của FED có thể phải trì hoãn để đảm bảo kinh tế Mỹ phát triển ổn định, giá vàng được hưởng lợi. Vị thế mua ròng vàng tăng lên. Số đơn xin bảo hiểm thất nghiệp tăng lên 298.000 đơn so với 245.000 đơn dự báo. Vàng tăng.
Các quan sát viên nhận định giá vàng còn được hỗ trợ phần nào bởi những phát biểu của Tổng thống Mỹ Donald Trump rằng các biện pháp trừng phạt mới đối với Triều Tiên, vừa được Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) thông qua ngày 12/9, chỉ là một bước đi nhỏ và "không là gì khi so sánh với điều cuối cùng phải xảy ra". Trước đó, toàn bộ 15 nước ủy viên HĐBA LHQ đã nhất trí thông qua nghị quyết mới tăng cường các lệnh trừng phạt đối với Bình Nhưỡng nhằm đáp trả vụ thử hạt nhân thứ 6 của Triều Tiên hôm 3/9.
Về những kim loại quý khác, giá bạc phiên này tăng 0,3% lên 17,85 USD/ounce , trong khi giá bạch kim giảm 0,5% xuống 985,2 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá đường giảm do nguồn cung dư thừa trên thị trường thế giới. Đường
Đường trắng giao tháng 10 giá giảm 11,50 USD tương đương 3,1% xuống 365,50 USD/tấn, trong phiên có lúc giá chỉ 364,90 USD/tấn, thấp nhất kể từ 17/8. Đường thô giao cùng kỳ hạn giá giảm 0,27 US cent tương đương 1,9% xuống 14,02 US cent/lb.
Thị trường đường trắng chịu áp lực do dự đoán nguồn cung trên toàn cầu sẽ dư thừa, bởi Liên minh châu Âu đang tiến sát tới thời điểm kết thúc hạn ngạch sản xuất, vào tháng 10 tới.
“Sản lượng đường sẽ gia tăng’, phó chủ tịch công ty Futures Group ở Chicagp, Jack Scoville, cho biết.
Mặt hàng cà phê giá tăng trong phiên vừa qua, với arabica giao tháng 12 tăng 3,2 US cent tương đương 2,4% lên 1,3505 USD/lb, mức cao nhất trong vòng gần 1 tháng; trong khi đó robusta giao tháng 11 giá tăng 18 USD tương đương 0,9% lên 1.969 USD/tấn.
Lo ngại về thời tiết khô hạn hơn mức bình thường ở Brazil tiếp tục hỗ trợ giá.
Trong nghiên cứu đầu tiên đánh giá tác động của tình trạng biến đổi khí hậu đối với ngành sản xuất cà phê, các nhà khoa học đến từ Viện Nghiên cứu môi trường Gund thuộc Đại học Vermont (Mỹ) nhận định thị trường cà phê trên thế giới sẽ biến động mạnh do sản lượng cà phê tại Mỹ Latinh có thể giảm gần 90% vào năm 2050 vì biến đổi khí hậu, trên cơ sở chỉ ra rằng nhiệt độ ổn định và mật độ ong thụ phấn là hai yếu tố có tác động quyết định đến sản lượng cà phê.
Do đó, hai yếu tố này một khi biến đổi do tác động của môi trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng cà phê.
Trước nguy cơ nhiệt độ Trái Đất tăng thêm 2 độ C vào năm 2050, các nhà nghiên cứu cảnh báo sản lượng cà phê giảm từ 73 đến 88% tại các nước Mỹ Latinh vốn nổi tiếng về trồng và chế biến cà phê hiện nay.
Sự sụt giảm của các loài ong thụ phấn cũng đóng góp mức giảm từ 8 đến 18% sản lượng cà phê tại đây. Honduras, Nicaragua và Venezuela sẽ là 3 nước chịu thiệt hại nặng nề nhất.
Nghiên cứu được đăng tải trên ấn phẩm của Viện Hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ, số ra ngày 11/9, tập trung đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với các loại cà phê chất lượng cao như Arabica vốn nhạy cảm với sự thay đổi của nhiệt độ môi trường, độ ẩm và ánh sáng mặt trời.
Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

48,23

+0,16

+0,18%

Dầu Brent

USD/thùng

54,27

+0,43

+0,76%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

35.870,00

+340,00

+0,96%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,01

+0,01

+0,33%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

165,42

-0,21

-0,13%

Dầu đốt

US cent/gallon

173,55

-0,51

-0,29%

Dầu khí

USD/tấn

515,00

-3,00

-0,58%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

50.200,00

+350,00

+0,70%

Vàng New York

USD/ounce

1.334,40

+1,70

+0,13%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.694,00

+47,00

+1,01%

Bạc New York

USD/ounce

17,92

+0,03

+0,14%

Bạc TOCOM

JPY/g

63,10

+0,90

+1,45%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

987,26

-2,56

-0,26%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

954,19

-1,67

-0,17%

Đồng New York

US cent/lb

303,70

+0,10

+0,03%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.668,00

-80,00

-1,19%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.137,00

+15,00

+0,71%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.061,00

-22,00

-0,71%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.675,00

-75,00

-0,36%

Ngô

US cent/bushel

352,75

+1,25

+0,36%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

443,50

+1,50

+0,34%

Lúa mạch

US cent/bushel

235,00

+0,75

+0,32%

Gạo thô

USD/cwt

12,95

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

957,25

+6,75

+0,71%

Khô đậu tương

USD/tấn

301,70

+1,70

+0,57%

Dầu đậu tương

US cent/lb

35,42

+0,23

+0,65%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

484,70

+0,30

+0,06%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.951,00

+17,00

+0,88%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

135,05

+3,20

+2,43%

Đường thô

US cent/lb

14,02

-0,27

-1,89%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

157,15

+5,70

+3,76%

Bông

US cent/lb

68,96

-0,15

-0,22%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

376,10

-2,00

-0,53%

Cao su TOCOM

JPY/kg

230,80

+2,00

+0,87%

Ethanol CME

USD/gallon

1,55

+0,01

+0,39%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg