1. Đảm bảo an toàn vốn, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tái cơ cấu
Trước hết, cần đảm bảo an toàn, hiệu quả kinh doanh của tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật về cho vay, đảm bảo tỷ lệ an toàn kinh doanh, quản lý ngoại hối; Kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng và chuyển dịch mạnh cơ cấu tín dụng theo ngành, lĩnh vực, địa bàn thành thị và nông thôn, kỳ hạn và khách hàng vay, đáp ứng vốn cho các nhu cầu vay để sản xuấtkinh doanh có hiệu quả, trong đó tập trung các nguồn vốn cho vay sản xuất nông – lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp, thu mua nông sản, chế biến và xuất khẩu, cân bằng hơn giữa cho vay đầu tư xuất khẩu với cho vay phát triển thị trường trong nước; hạn chế cho vay các nhu cầu vốn thuộc các lĩnh vực phi sản xuất; Đồng thời, thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xử lý lãi suất tiền vay và tiếp tục cho vay mới đối với các doanh nghiệp, hộ sản xuất bị thiệt hai do thiên tai, bão lụt… để khách hàng vay có điều kiện sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật về cho vay vốn của các tổ chức tín dụng. Ngoài ra, cần tiếp tục hoàn thiện và tăng cường việc kiểm tra, giám sát, thanh tra thực hiện các quy định về cho vay và kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh về hoạt động tín dụng.
Quá trình tái cấu trúc nền kinh tế (ngành, sản phẩm và các cơ cấu khác) của Việt Nam trong thời gian tới cần bảo đảm thúc đẩy sự phát triển dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, hình thành cơ cấu hai tầng, với tầng trên là các doanh nghiệp và tổ hợp doanh nghiệp lớn, hiện đại, đa sở hữu, hoạt động xuyên quốc gia và tầng dưới là mạng lưới các doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết chặt chẽ với nhau và với tầng trên; kinh doanh đa ngành, đa dạng hoá sản phẩm, đồng thời hình thành các sản phẩm chủ lực, quy mô lớn, có hiệu quả trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh chung của đất nước, của ngành và đơn vị mình theo nguyên tắc thị trường, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đáp ứng cả thị trường trong nước và nước ngoài.
2. Điều hành tỷ giá linh hoạt hơn, ngăn chặn những cơn sốt và tình trạng lũng đoạn thị trường
Thực tế cho thấy, sự căng thẳng ngoại tệ trên thị trường tiền tệ trong nước thường tỷ lệ thuận với độ chênh biệt cao và kéo dài của tỷ giá chính thức với tỷ giá trên thị trường tự do trong những thời điểm tương ứng. Cần nhấn mạnh rằng, càng kéo dài lâu hơn sự chênh biệt và mất cân bằng này thì càng tích tụ nhiều hơn những hệ quả tiêu cực cộng dồn từ các thiệt hại do VND bị định giá cao và do “sốc tỷ giá“ trong tương lai. Đặc biệt, trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu, đồng VNĐ dễ có xu hướng tăng giá hơn không chỉ do 2 xu hướng trong nước là: ổn định quá lâu tỷ giá chính thức và kéo dài chính sách tín dụng nơi lỏng như nêu trên, mà còn bởi 2 nguyên nhân khác là: do việc giảm giá cả các hàng hoá và dịch vụ chung phổ biến trên các thị trường trong nước và quốc tế, cũng như do xu hướng giảm giá các đồng ngoại tệ chủ yếu (mà tỷ giá VND gắn kết) như là hệ quả trực tiếp của chính sách tiền tệ nới lỏng trong liệu pháp cả gói chống suy giảm kinh tế ở các nước phát triển.
Mặt khác, việc điều chỉnh tăng mạnh tỷ giá VND, chẳng hạn so với USD, tức phá giá mạnh đồng bản tệ, lại có thể tạo nguy cơ bùng nổ tái lạm phát và thậm chí có thể xuất hiện tình trạng suy thoái - lạm phát gây mối nguy hiểm kép, tức vừa có lạm phát cao, vừa có sự đình trệ, thậm chí suy giảm mạnh quy mô và tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, hết sức tiêu cực cho sự ổn định hệ thống tài chính - tiền tệ và cả thể chế quốc gia …
Trên thực tế, cần hiểu sự linh hoạt tỷ giá không có nghĩa là sự thay đổi chóng mặt của tỷ giá chính thức theo các quyết định chủ quan có tính cơ hội hoặc vì lợi ích cục bộ nào đó, lại càng không có nghĩa là có thể biến động ngược chiều với các xu hướng tỷ giá chung của các đồng tiền chủ chốt trên thế giới. Linh hoạt còn có nghĩa là không nên chỉ có sự biến động tỷ giá tăng hoặc giảm theo một chiều, chỉ có lên hoặc chỉ có xuống, tạo ra những kỳ vọng đầu cơ cao; Đồng thời, cũng không có nghĩa là phải ngay lập tức điều chỉnh tỷ giá chính thức thả nổi cứng nhắc như toán học theo đúng tốc độ tăng hay giảm của một, hoặc một số đồng tiền dù là rất quan trọng nào đó trên thế giới.
Sự linh hoạt của chính sách tỷ giá còn được thể hiện ở sự linh hoạt trong lựa chọn mục tiêu của chính sách tỷ giá. Không thể thoả mãn cùng lúc nhiều mục tiêu cho chính sách tỷ giá trong cùng một thời điểm, nhưng cũng không thể kéo dài mãi một chính sách tỷ giá chỉ phục vụ cho một mục tiêu nhất định, dù là quan trọng trong bối cảnh nào đó, bất chấp những điều kiện khách quan đã thay đổi. Chẳng hạn, mục tiêu giảm nghĩa vụ nợ nhờ duy trì chính sách tỷ giá thấp, tức định giá cao đồng bản tệ, có thể là cần thiết trong thời điểm đến hạn thanh toán nợ, nhưng nếu kéo dài quá lâu suốt cả năm hoặc nhiều năm chính sách này sẽ gây hại cho mục tiêu dài hạn hơn là sự cân bằng cán cân thương mại và đẩy mạnh xuất khẩu thu ngoại tệ, thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có ngành xuất khẩu… Hơn nữa, bản thân mục tiêu giữ ổn định hệ thống tiền tệ cũng sẽ không thể đạt được hoặc chỉ mang tính hình thức, nếu duy trì khiên cưỡng sự ổn định của tỷ giá chính thức bất chấp những cơ sở kinh tế khách quan bảo đảm của nó đã thay đổi. Đặc biệt, mục tiêu giữ ổn định tỷ giá về hình thức này cũng sẽ tự động mất đi ý nghĩa tích cực nếu các mục tiêu khác bị tổn thương nặng nề, như tạo nguồn thu ngoại tệ tập trung, tăng dự trữ quốc gia, chống đầu cơ ngoại tệ và chống nạn ngoại tệ hoá; hoặc tạo ra những hệ quả đắt đỏ hơn so với mục tiêu giảm gánh nặng nợ được đặt ra ban đầu.
Linh hoạt tỷ giá còn bảo đảm phải có sự đồng bộ giữa tỷ giá với lãi suất vả cả biên độ tỷ giá, cũng như với các chính sách tài chính khác (theo nghĩa rộng) tránh sự triệt tiêu lấn nhau giữa các công cụ chính sách này, nhất là chính sách tỷ giá và lãi suất, cũng như giữa chính sách tỷ giá với công cụ tài chính khác. Đồng thời, còn cần “căn” tỷ giá chính thức phụ thuộc vào độ “dày hay mỏng” của dự trữ quốc gia, vào các mục tiêu chính sách cơ bản và vào thực tế dòng tiền chảy trên thị trường, nhất là dòng ngoại tệ ra-vào qua biên giới.
Cần lưu ý rằng, linh hoạt tỷ giá không hề mâu thuẫn với yêu cầu về tính minh bạch và có thể dự báo được của chính sách tỷ giá. Nói cách khác, xu hướng tỷ giá cần bám sát các động thái và tương quan tiền tệ và thị trường trong nước và quốc tế, tránh thị trường chảy theo một hướng, còn chính sách tỷ giá lái theo một nẻo, làm mất tính ổn định khách quan của chính sách tỷ giá, làm giảm hiệu quả và cả uy tín chính phủ trong điều hành tỷ giá, gây thêm những rủi ro chính sách cho các doanh nghiệp, đồng thời làm xấu môi trường và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đặc biệt, cần chú ý đến tính 2 mặt của chính sách tỷ giá và cần phát triển đồng bộ, có hiệu quả hơn hệ thống thông tin, dự báo, giám sát và cảnh báo an toàn tài chính có liên quan đến điều hành tỷ giá… Việc nhấn mạnh một chiều các lợi ích của việc ấn định giá trị đồng bản tệ quá cao hoặc quá thấp, cũng như của việc thả nổi hoàn toàn tỷ giá, là chỉ tính đến những lợi ích ngắn hạn và chứa đựng trong đó tất cả những hiểm hoạ mà sớm hay muộn sẽ bùng nổ trong tương lai, khiến toàn bộ nền kinh tế phải trả giá đắt hơn so với những lợi ích cục bộ thu được. Cái giá phải trả càng cao nếu mức độ chênh lệch giữa giá trị thực tế và giá trị "ảo" của đồng bản tệ càng lớn và được duy trì càng lâu, cũng như nếu cơ chế và các thể chế thị trường trong nước càng sơ khai và thiếu đồng bộ. Hơn nữa, sự tham nhũng và đầu cơ quốc tế sẽ làm cho cái giá phải trả này càng trở nên khổng lồ và khó lường trước được.
Để góp phần ngăn chặn hiệu quả các cơn sốt nóng lạnh tương tự, nhất là tình trạng lũng đoạn thị trường nguy hiểm có thể xẩy ra trong thời gian tới, cần đảm bảo hoàn thiện và tuân thủ các nguyên tắc quản lý kinh tế và cạnh tranh thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước nói chung, trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ nói riêng, giảm thiểu và khắc phục các biểu hiện và lạm dụng công cụ quản lý hành chính, mệnh lệnh và hiện tượng “vận động hành lang” , “chạy chính sách” vì lợi ích ngành độc quyền, bất chấp lợi ích và uy tín quốc gia.
Đặc biệt, cần đảm bảo các biến động chính sách phải tường minh và có thể dự báo được trong xu hướng ổn định, nhất quán, phù hợp các nguyên tắc kinh tế thị trường và yêu cầu cam kết hội nhập, các thông lệ thế giới, cũng như các tín hiệu thị trường khách quan. Đồng thời, thể chế hoá các phát ngôn và cung cấp thông tin chính thức có chất lượng và trách nhiệm pháp lý cao định kỳ và không định kỳ của các cơ quan và đại diện nhà nước, các tổ chức kinh doanh có liên quan (nhất là các lĩnh vực có độ độc quyền kinh doanh cao), cũng như của các cơ quan truyền thông và các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó, cần chủ động phát hiện và trừng phạt kịp thời, nghiêm khắc các cá nhân và tổ chức tung tin đồn thất thiệt hoặc đưa tin kiểu “gây sốc” nhằm mục tiêu phá hoại chính sách, đầu cơ và cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra, cần phát triển và nâng cao chất lượng công tác thống kê, nghiên cứu phân tích và dự báo kinh tế-thị trường, các hoạt động dự báo, đánh giá tín nhiệm, giám sát và phản biện xã hội; đồng thời, tăng cường năng lực và hiệu lực phòng chống tham nhũng, nâng cao dân trí và văn hoá quản lý về kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền, tăng khả năng tự nhận thức và cảnh giác, tránh hành động kiểu” bầy đàn”, vô tình hoặc cố ý tiếp tay và trở thành nạn nhân của đầu cơ và tin đồn…
3. Tăng cường sự phối hợp đồng bộ các giải pháp và hoạt động quản lý
Sự phối hợp các giải pháp và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trong thời gian tới cần tập trung trước hết vào việc cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm, gắn với công tác kiểm tra giám sát, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh, thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu và nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế; Rà soát, điều chỉnh hình thức, tiêu chí và đối tượng hưởng chính sách kích thích kinh tế cho phù hợp với các yêu cầu phát triển và tái cơ cấu; ngăn chặn và xử lý tiêu cực trong thực hiện chính sách hỗ trợ của nhà nước; Sử dụng có hiệu quả và đúng mục đích dự trữ ngoại hối nhà nước; ổn định giá trị đồng tiền VND, ổn định thị trường vàng trong nước thích ứng với biến động của thị trường thế giới; Kiểm soát nợ, nhất là nợ xấu; Cân bằng hơn giữa đầu tư cho xuất khẩu và phát triên thị trường nội địa, sử dụng hàng rào thuế quan và phi thuế quan cần thiết, không trái với cam kết quốc tế để điều hoà hoạt động nhập khẩu, bảo đảm chất lượng hàng nhập khẩu vì lợi ích người tiêu dùng và vệ sinh môi trường; Tăng cường kiểm tra, quản lý thị trường, kịp thời phát hiện hành vi lợi dụng việc khan hiếm hàng hóa để tăng giá trục lợi đối với một số mặt hàng quan trọng và thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng của dân cư.
Ngoài ra, cần nhấn mạnh đến yêu cầu kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng công tác tham mưu về chính sách phát triển kinh tế, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, điều tiết thị trường và thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước, cũng như nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả đầu tư nhà nước; Tăng cường sự phối hợp các hoạt động và cơ quan dự báo với giám sát, bao gồm cả giám sát chuyên ngành với giám sát hợp nhất, tổng thể toàn thị trường để cảnh báo sớm rủi ro và xử lý một cách hiệu quả những vấn đề mới phát sinh, nhất là các rủi ro chéo, tránh các đổ vỡ dây chuyền và bất ngờ; Bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán và hiệu quả của hệ thống cơ chế, chính sách, đặc biệt là sự nhất quán giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ quốc gia.
Đặc biệt, cần từng bước hiện đại hóa cơ cấu tổ chức, bộ máy, nâng cao năng lực, quyền tự chủ và trách nhiệm của NHNN thực hiện chức năng Ngân hàng Trung ương và chức năng quản lý nhà nước trong việc chủ động và linh hoạt điều hành chính sách tiền tệ, thanh tra giám sát an toàn hoạt động ngân hàng, bảo đảm sự vận hành an toàn, thông suốt của hệ thống ngân hàng; phát triển nghiệp vụ thị trường mở; Gắn kết chặt chẽ việc điều hành tỷ giá hối đoái với điều hành lãi suất và các công cụ tài chính – tiền tệ trực tiếp và gián tiếp khác; Nâng cao năng lực theo dõi, dự báo, quản lý và can thiệp thị trường của NHNN, cũng như chất lượng và hiệu quả của công tác phòng chống rửa tiền, phòng chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực ngân hàng; Tiếp tục mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng phù hợp với cam kết quốc tế; Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng trong nước vươn ra hoạt động ở thị trường nước ngoài; Thực hiện tiến độ và yêu cầu của tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Tham gia các điều ước quốc tế, các diễn đàn khu vực và thế giới về tiền tệ, ngân hàng; Thực hiện tốt vai trò đại diện của Chính phủ Việt Nam tại các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác đa phương và song phương trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng nhằm tận dụng nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến của nước ngoài…
Để hoá giải những sức ép đa dạng, nhiều chiều nêu trên, đòi hỏi những năng lực và phẩm chất rất cao, sự đoàn kết, đồng tâm hiệp lực, sự kiên định và năng động, thông minh, dũng cảm và cả cầu thị của Việt Nam. Những kinh nghiệm và thành quả tích cực thu nhận được trong thời gian qua cả về chính sách và thực tế kinh tế - xã hội là đáng khích lệ, sẽ tiếp thêm sức Xuân mới để Việt Nam tiếp tục vượt qua các sức ép và những bài toán đa dạng trên con đường Đổi mới, Phát triển và Hội nhập.
(TS. Nguyễn Minh Phong, Viện nghiên cứu phát triển KT - XH Hà Nội)
Trung
Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông Tin và Truyền Thông Số 46/GP-TTĐT ngày 30 tháng 03 năm 2010
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Phạm Ngọc Thuý, Phó Giám Đốc. Địa chỉ: 76 Nguyễn Trường Tộ - Hà Nội. Điện thoại: (04)37153630. - (04)37153631.- (04)37153632. Fax:
(04)37153630.
Websites:http://vinanet.com.vn ;
http://asemconnectvietnam.gov.vn - Email: vinanet2011@gmail.com