VINANET - Theo số liệu thống kê từ TCHQ, 11 tháng năm 2011, Việt Nam đã thu về 178,5 triệu USD từ sản phẩm mây, tre, cói thảm, giảm 2,42% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng tháng 11, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này giảm so với tháng trước đó, giảm 10,6% nhưng tăng 6,23% so với tháng 11/2010, tương đương với 16,3 triệu USD.
Nhìn chung, từ đầu năm cho đến hết tháng 11, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng mây tre, cói thảm tăng trưởng không đều. Nếu như tháng 9, 10 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tăng trưởng, thì sang tháng 11 lại giảm. Hoa Kỳ, Nhật, Đức, Oxtraylia, Pháp, Đài Loan….tiếp tục là những thị trường chính nhập khẩu sản phẩm mây, tre, cói thảm của Việt Nam. Tuy nhiên, trong tháng kim ngạch xuất khẩu sang những thị trường này đều giảm kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Hoa Kỳ, thị trường chiếm tỷ trọng hơn cả, chiếm 15,6%, tương đương với 27,9 triệu USD, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng tháng 11, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mây, tre, cói thảm sang thị trường Hoa Kỳ chỉ đạt 2,4 triệu USD, giảm 5,87% so với tháng 10/2011 và giảm 25,61% so với tháng 11/2010.
Đứng thứ hai là Nhật Bản, với kim ngạch xuất trong tháng đạt 2,6 triệu USD, giảm 4,56% so với tháng 10, nhưng tăng 14,92% so với tháng 11/2010. Tính chung 11 tháng 2011, Việt Nam đã xuất khẩu 25,8 triệu USD sản phẩm mây, tre, cói thảm sang Nhật, giảm 3,93% so với cùng kỳ năm 2010.
Thị trường xuất khẩu sản phẩm mây, tre, cói thảm
ĐVT: USD
|
|
|
|
|
% tăng giảm KN so T10/2011
|
% tăng giảm KN so T11/2010
|
% tăng giảm KN so cùng kỳ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Được biết, sáng ngày 2/12, tại Đà Nẵng, Quỹ Quốc tế Bảo tồn thiên nhiên (WWF) kết hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – chi nhánh Đà Nẵng tổ chức Hội thảo “Tham vấn chính sách phát triển song mây”.
Hội thảo xoay quanh chủ đề phân tích về chính sách hiện hành của Việt Nam liên quan đến sản xuất, khai thác, vận chuyển, chế biến, thương mại song mây. Đồng thời, thảo luận các giải pháp hỗ trợ về mặt chính sách và thể chế cho phát triển song mây bền vững của Việt Nam.
Theo đánh giá, Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho các loài song, mây, tre phát triển. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, thì hiện nay nước ta có khoảng 30 loài song mây (trong đó có 10 loại có giá trị kinh tế cao) thuộc sáu chi, phần lớn diện tích được phân bố và khai thác ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Đồng Nai, Quảng Nam... Đồng thời có đến 723 làng nghề chế biến mây, tre đan và hơn một nghìn doanh nghiệp quan tâm đến sản xuất và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ, trong đó có mặt hàng mây, tre đan, thu hút 342 nghìn lao động.
Mặc dù có tiềm năng lớn trong phát triển nhưng ngành song mây Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố thiếu bền vững. Trong nhiều thập kỷ qua, do tình hình khai thác và xuất khẩu (XK) nguyên liệu thô một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch và quản lý nên nguồn nguyên liệu song mây tự nhiên của Việt Nam đã cạn kiệt. Tại nhiều vùng nguyên liệu mây truyền thống nhiều loài mây tự nhiên đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Hiện, ngành mây tre đang phải nhập khẩu khoảng 33 nghìn tấn nguyên liệu mỗi năm để phục vụ cho sản xuất.
Giám đốc Dự án Mây bền vững (thuộc WWF) cho biết, ngành mây Việt Nam hiện khai thác theo kiểu tận diệt, không quy hoạch hoặc trồng mới khiến song mây ngày càng cạn kiệt; chưa có cơ chế hay quy định thúc đẩy quản lý và khai thác mây bền vững từ rừng tự nhiên mà chủ yếu nhấm mạnh vào việc tìm kiếm các giải pháp thay thế để khai thách trực tiếp tài nguyên rừng; chưa có chính sách đủ hấp dẫn để khuyến khích đầu tư song mây cho từng tự nhiên; quy hoạch song mây chưa được lồng ghép vào kế hoạch phát triển ngành kinh tế - xã hội; thiếu các chính sách khuyến khích tiêu thụ sản phẩm song mây trong nước;….
Để phát triển ngành sản xuất mây, tre bền vững trong thời gian tới, các đại biểu tham dự hội thảo đã đề xuất nhiều chính sách phát triển như quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến, quy hoạch xác định vùng nguyên liệu tự nhiên, cung cấp cho các vùng làng nghề thủ công truyền thống. Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành mây, tre cũng cần được chú ý, mở thêm các cơ sở dạy nghề về mây, tre, giang đan... đặc biệt là có các chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp cũng như người dân hoạt động trong lĩnh vực này.